Bài hát Bài ca Thư viện

Danh ngôn hay vè sách

“Tất cả những gì con người làm, nghĩ hoặc trở thành: được bảo tồn một cách kỳ diệu trên những trang sách.” – Thomas Carlyle “Sách là nguồn của cải quý báu của thế giới và là di sản xứng đáng của các thế hệ và các quốc gia. ” – Henry David Thoreau

Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bác Hô với việc đọc và tự học

    Ảnh ngẫu nhiên

    VIDEO_DOWNLOAD_1737387078994_1738051606674.flv Z5289441383396_ae2e90afc6dfe6bee8ad79913f40276d.jpg Z5289315312900_673d023552c785d14000d8bb0d446975.jpg Z5289315606303_adee1276612dfba015a38210c4adb879.jpg Z5289311383181_25b029632d5277e288b88026b965de8f.jpg Z5289311224434_d9f9ed71ae170caff7b095ce3d3667b9.jpg Z5289312525387_e15c705b3ab87677b739cbcee3d31c22.jpg Z5289313419051_66cb247a54eea77f37af22f6e194466e.jpg Z5289314306610_719c1b1966398e3ae7941b4291d391b6.jpg Z5289317590026_74c260bcc89c290010445db29e907127_1.jpg Z5289323761592_2980135970d093dd498e5845849ce91d.jpg Z5289323561292_37a50a0bcc605213b0cb6158c8e7673c.jpg Z5289323132279_f3c56704bcce53bd30baa82407698316.jpg Z5289321668991_a68bf2b23dc629d953cbf55090f3114a.jpg Z5289322225030_43b1399de4cd3789063e9ad809962fb0.jpg Z5289321311988_8d64554bfaa8e478148fe9e83d4463d7.jpg Z5289320894465_4fd4d2b29795ed766f33e5b7c7c82598.jpg Z5289320482342_47b9bdd713208b84e89c7088119557a2.jpg Z5289320181137_d085e32ab45d13dc98147a1c1b21e9c0.jpg Z5289319922549_c0a234a22897bc8f86dc0705720734d8.jpg

    CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS SÔNG ĐÀ

    Văn hóa đọc trong thời đại số

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    LSVN bằng tranh tập 27

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Ngần Thị Thoan
    Ngày gửi: 17h:38' 15-03-2024
    Dung lượng: 3.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ mười một

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Lương Định Quốc
    Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
    Đồ họa vi tính: Tú Bình
    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data

    Nhà Trần suy vong/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Lê Văn Năm biên soạn; họa sĩ Nguyễn
    Quang Vinh Tái bản lần thứ 11 TP. Hồ Chí Minh; Trẻ, 2013
    104 tr.; 20cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.27)
    1. Việt Nam Lịch sử Triều nhà Trần, 12251400 Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê
    Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam History Trần dynasty, 12251400 Pictorial works.
    959.7024 — dc 22
    N577

    LỜI GIỚI THIỆU

    Sau những tháng ngày hưng thịnh, triều Trần dần đi
    vào con đường suy vong. Tầng lớp quý tộc lợi dụng quyền
    thế chiếm đoạt đất đai của dân, mở rộng điền trang, thái
    ấp. Vua chuộng việc ăn chơi, thích kẻ dua nịnh. Người tài
    giỏi, cương trực dần vắng bóng trong triều. Cuộc sống
    của dân chúng trở nên lầm than, cơ cực.
    Các vua Trần chủ trương phát động chiến tranh với
    lân bang để củng cố nền thống trị trong nước và đề cao
    uy thế với nước ngoài. Thế nhưng giờ đây lực lượng nhà
    Trần đã suy yếu, không còn chống đỡ nổi những cuộc tấn
    công của Chiêm Thành. Sự suy sụp ấy càng nhanh chóng
    hơn bởi tranh chấp ngay trong triều đình nhà Trần.
    Những nội dung trên được truyền tải trong tập 27 của
    bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Nhà Trần suy vong”
    phần lời do Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do
    Nguyễn Quang Vinh thể hiện.
    Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 27 của
    bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    3

    Vận trời xưa nay, thịnh tất đến suy. Từ vua Trần Dụ
    Tông, nhà Trần dần đi vào suy vong. Vua mê đắm tửu
    sắc, tin dùng nịnh thần lại không có bậc tôi hiền gắng sức,
    nên suy vong là chuyện hiển nhiên.
    Vua Duệ Tông lại chẳng biết khoan sức dân, dốc hết
    tinh lực ít ỏi của nước nhà vào việc chinh phạt. Việc không
    thành, sức dân cạn kiệt, khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp
    nơi. Đó cũng chính là thời cơ cho nhà Hồ chuyên quyền
    và lên ngôi.

    4

    Trần Hiến Tông mất sớm, không con nối ngôi. Thượng hoàng
    Minh Tông lập Trần Hạo, người con thứ mười của mình lên làm
    vua tức Trần Dụ Tông. Khi ấy Dụ Tông mới 6 tuổi nên thực tế
    mọi việc triều chính đều do Thượng Hoàng Minh Tông lo liệu.
    Vì thế, việc triều chính vẫn giữ được nề nếp cũ. Nhưng vào năm
    1357, Thượng hoàng băng hà, Dụ Tông tự trông coi việc nước.
    Từ đó, việc triều chính trở nên rối loạn.

    5

    Dụ Tông ưa thích những kẻ dua nịnh nên trong triều nên bọn
    gian thần ngày càng đông. Chúng nhờ vào việc nịnh hót mà được
    vua tin yêu, cất nhắc vào những chức vụ quan trọng. Công việc
    của triều đình dần dần bị bọn này chi phối.

    6

    Dụ Tông bỏ bê việc triều
    chính, suốt ngày mải ăn chơi,
    hát xướng. Để có nhiều tuồng
    hát mới và các trò vui cho những
    buổi trình diễn tổ chức thường
    xuyên tại cung đình, Dụ Tông
    ra lệnh cho các vương hầu, công
    chúa phải soạn tuồng hát hoặc
    nghĩ ra các trò tạp diễn để dâng
    lên cho vua duyệt xét. Tuồng
    hay, trò hay sẽ được ban thưởng
    hậu hĩ.
    7

    Các vua đầu triều Trần nghiêm cấm đánh bạc, nhưng đến đời
    Dụ Tông thì khác hẳn. Dụ Tông rất mê bài bạc. Nhà vua cho gọi
    những người giàu có trong nước vào cung đánh bạc cho vui. Nhiều
    cự phú ở làng Đình Bảng (thuộc Bắc Ninh), làng Đình Nga (thuộc
    Quốc Oai, Hà Nội ngày nay) là những tay cờ bạc thường lui tới
    cung vua đánh bạc thâu đêm suốt sáng. Số tiền đặt trong các ván
    bạc rất lớn, có khi lên đến 300 quan.
    8

    Hết bài bạc lại rượu chè, để làm trò vui, Dụ Tông còn cho các
    quan cùng nhau uống rượu thi, ai uống nhiều hơn thì được thăng
    phẩm trật. Bọn quan lại thối nát lợi dụng cơ hội này để thăng quan
    tiến chức. Có lần, viên quan tên Bùi Khoan lập mẹo vờ uống được
    100 thưng rượu. Dụ Tông thích lắm, thưởng cho y được thăng hai
    trật một lúc.

    9

    Bấy giờ có Chu Văn An đang giữ chức Tư nghiệp Quốc tử
    giám vốn là một nhà Nho, nhà giáo nổi tiếng thẳng thắn, thanh
    liêm. Ông quê ở xã Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt thuộc huyện
    Thanh Trì, Hà Nội) bên dòng sông Tô Lịch nước quanh năm trong
    mát. Đôi bên bờ sông là những vườn lệ chi xanh tươi, với những
    chùm quả trĩu cành, thơm ngon hiếm có.

    10

    Khi còn tuổi trẻ, Chu Văn An đã nổi tiếng là người có học vấn
    uyên thâm. Nhưng chẳng màng đến danh lợi nên ông không tham
    dự các kỳ thi triều đình vẫn tổ chức để tuyển chọn người ra làm
    quan mà chỉ thích ở nhà đọc sách, ngâm vịnh. Nơi ông ở được
    dân chúng trong vùng gọi là thôn Văn.

    11

    Chu Văn An chọn một khu đất cao bên một cái đầm lớn giữa
    cánh đồng để mở trường dạy học. Ông tuy rất nghiêm khắc nhưng
    cũng rất hiểu tính tình và tài năng của từng học trò để kèm cặp
    dạy dỗ một cách chu đáo. Vì thế, danh tiếng của ông xa gần đều
    biết. Người xin theo học rất đông.

    12

    Trong số môn đệ của ông, sau này nhiều người thành đạt làm
    quan trong triều. Có người giữ những chức vụ quan trọng, chẳng
    hạn như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát. Học trò ông, dù làm quan to,
    khi về thăm thầy đều giữ lễ, quỳ lạy bên giường rất mực cung kính
    và tỏ ra rất mừng khi được thầy trò chuyện ít câu. Nhưng người
    nào làm điều không tốt vẫn bị ông quở mắng, thậm chí còn đuổi
    đi, không cho vào gặp.

    13

    Dưới thời Minh Tông, nghe tiếng về đạo
    đức và tài học của Chu Văn An, nhà vua cho
    vời ông về triều trao cho chức Tư nghiệp ở
    Quốc tử giám, ngôi trường quan trọng nhất
    trong nước thời ấy, đồng thời giao cho việc
    dạy dỗ Thái tử Trần Vượng. Chu Văn An đã
    đem hết tâm huyết truyền dạy cho Thái tử với
    hy vọng sau này Trần Vượng sẽ là một vị vua
    anh minh.

    14

    Cho nên, dưới triều
    Hiến Tông, triều chính
    vẫn ổn định, mọi việc
    giữ được nếp cũ nhờ có
    Chu Văn An và nhiều
    vị quan tài giỏi khác
    như Mạc Đĩnh Chi, Lê
    Quát, Phạm Sư Mạnh
    và Nguyễn Trung Ngạn
    v.v... hết lòng trông coi
    việc nước. Tuy nhiên,
    vua Hiến Tông mất
    sớm, sau đó Thượng
    hoàng cũng băng hà,
    việc nước ngày càng
    trở nên rối loạn bởi
    những trò ăn chơi sa
    đọa của Dụ Tông. Các
    vị quan tài giỏi, có đức
    độ không còn được vua
    tin dùng như trước.

    15

    Không đành tâm nhìn đất nước mỗi ngày một suy vong do sai
    lầm của Dụ Tông và sự lộng hành của bọn gian thần, Chu Văn
    An hết lòng khuyên can nhà vua. Nhưng Dụ Tông vẫn chứng nào
    tật ấy, bỏ ngoài tai tất cả những lời tâm huyết của Chu Văn An.

    16

    Cuối cùng, Chu Văn An viết một tờ
    sớ dâng lên vua với lời lẽ quyết liệt kể
    tội bọn gian nịnh làm đất nước suy sụp
    và xin vua cho chém ngay bảy tên đầu
    sỏ. Đó là những tên có nhiều quyền thế
    và được Dụ Tông hết lòng tin yêu. Việc
    làm đó cho thấy Chu Văn An là người
    rất cương trực và dũng cảm, không sợ
    bọn gian thần thù oán, hãm hại.

    17

    Thất trảm sớ dâng lên nhưng không được
    nhà vua trả lời. Thấy không thể lay chuyển
    Dụ Tông, Chu Văn An quyết rời quan trường.
    Đấy cũng là cách cuối cùng ông muốn làm
    để cảnh tỉnh Dụ Tông. Chu Văn An liền từ
    quan, treo mũ áo ở cửa Huyền Vũ (tức cửa
    bắc hoàng thành) rồi về vùng núi Chí Linh,
    một nơi có phong cảnh kỳ thú (thuộc Hải
    Dương ngày nay) ở ẩn.

    18

    Chu Văn An làm nhà ở
    trên núi Phượng, lấy hiệu là
    Tiều Ẩn. Ngoài việc dạy học, ông
    thường đi khắp nơi ngắm cảnh đẹp và làm
    thơ ngâm vịnh. Một lần đi qua Giang Đình, ông
    đã ghi lại xúc cảm của mình:
    Giang Đình mãi đứng đếm thuyền câu
    Gió gấp bên ghềnh gợi cảnh thu.
    Nắng xế hồng phai thi hứng cạn,
    Trời chiều xanh biếc, cảnh vui đâu.
    Công danh trót lạc vào hư ảo,
    Hồ hải rong chơi, bớt nỗi sầu.
    Đi, lại tự mình nào sá quản,
    Sóng xanh vạn khoảnh cánh chim âu.
    Đào Thái Tôn dịch (theo Thơ văn Lý Trần)

    19

    Sau khi Chu Văn An đi rồi, không còn ai ngăn cản, Dụ Tông
    càng mặc sức ăn chơi. Vào mùa đông năm 1363, Dụ Tông sai đào
    hồ trong vườn ngự uyển. Trong hồ, xếp đá giả sơn và khai ngòi
    bốn phía cho nước chảy thông nhau. Cạnh hồ là hoa viên trồng
    các loại thông, tre và trăm thứ hoa thơm cỏ lạ.
    20

    Vua cũng sai người đi khắp nơi tìm các loại chim quý, thú lạ
    về nuôi trong vườn. Cạnh hồ, Dụ Tông cho cất một tòa lầu rực
    rỡ. Đấy là nơi nhà vua thường cùng đám cận thần dua nịnh của
    mình đến vui chơi, bài bạc, chè chén và xem cung nữ múa hát.

    21

    Gần đấy, Dụ Tông lại sai đào một cái hồ khác nhỏ hơn. Dân
    chúng Hải Đông phải vất vả chở nước từ biển vào đổ đầy hồ.
    Trong khi đó, dân các vùng ven biển phải nhọc công tìm các loài
    cá lạ, các loại sinh vật biển cùng cá sấu chở đến nuôi trong hồ
    cho vua thưởng ngoạn.

    22

    Dụ Tông cũng thường ra khỏi kinh thành, nhưng không phải
    để xem xét dân tình mà để đến nhà các quan lại thân cận bày các
    cuộc vui. Một hôm nhà vua đi thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy
    Trần Ngô Lang ở Mễ Sở (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay) đến nửa
    đêm. Lúc trở về Dụ Tông bị bọn cướp chặn lấy mất cả ấn và gươm
    báu. Tin rằng đấy là điềm xấu báo trước mình sẽ không sống lâu,
    vua càng lao mình vào các cuộc ăn chơi.
    23

    Năm 1369, Dụ Tông lâm bệnh nặng, vì không
    có con nên lúc sắp mất, vua xuống chiếu truyền
    ngôi cho Nhật Lễ. Nguyên trước đây có một
    đào hát rất đẹp, vợ của một người làm trò tên
    Dương Khương, thường đóng vai Vương mẫu
    trong tuồng “Vương Mẫu hiến bàn đào”. Anh
    cả của Dụ Tông là Cung túc Đại vương Trần
    Dục say mê nhan sắc của nàng nên bắt Dương
    Khương phải nhường vợ cho mình. Lúc đó nàng
    đã có mang với Dương Khương, sau đó sinh ra
    Nhật Lễ.

    24

    Triều đình và nhiều tôn thất nhà Trần không tán thành việc
    truyền ngôi cho Nhật Lễ và muốn lập người anh của Dụ Tông là
    Cung Định vương lên ngôi. Nhưng Hiến Từ Hoàng Thái hậu (vợ
    của Thượng hoàng Minh Tông đã mất) bảo:
    - Trần Dục là con đích trưởng, lại mất sớm, không được nối
    ngôi vua. Nhật Lễ không phải là con của Dục đó sao?
    Và bà cho người đi đón Nhật Lễ vào cung.

    25

    Lên ngôi vua rồi Nhật Lễ cũng chẳng màng gì đến việc nước,
    suốt ngày chỉ cùng bọn cận thần dua nịnh vui chơi, tổ chức yến
    tiệc, hát xướng. Các tôn thất nhà Trần và quan lại mong muốn có
    được một vị minh quân đều thất vọng, nhất là Thái hậu Hiến Từ.
    Bà hối tiếc vì đã có quyết định sai lầm giúp Nhật Lễ lên ngôi nên
    thường than thở với những người trong cung. Nhật Lễ nghe được
    căm giận lắm, sai người lén đánh thuốc độc giết Thái hậu.

    26

    Nhật Lễ còn định bỏ họ Trần lấy lại họ Dương, tức họ cha ruột
    của mình. Để thực hiện dự tính đó, Nhật Lễ tìm cách diệt trừ tôn
    thất họ Trần, nhất là những người có danh vọng hoặc đang nắm
    chức vụ quan trọng trong triều. Trước tình hình đó, một số tôn thất
    họ Trần hợp sức với nhau để tính kế giết Nhật Lễ nhưng không
    thành. Mười tám người tham gia việc này đều bị giết hại.

    27

    Trần Phủ, con trai thứ ba của Trần Minh Tông, vốn là một người
    nhu nhược. Tuy có con gái làm hoàng hậu của Nhật Lễ nhưng
    thấy Nhật Lễ cho quân lùng bắt các tôn thất nhà Trần, Trần Phủ
    sợ vạ lây đến mình nên thu xếp đồ đạc, cùng gia quyến định lánh
    ra trấn Đà Giang để tìm chỗ ẩn thân.
    28

    Biết chuyện ấy, em gái Trần Phủ là công chúa Thiên Ninh cố
    gắng thuyết phục anh:
    - Thiên hạ là của tổ tông mình, sao lại vứt bỏ nước cho kẻ
    khác? Anh phải đứng ra chiêu tập nghĩa sĩ diệt Nhật Lễ để lấy lại
    ngôi báu. Em sẽ đem bọn gia nô làm nội ứng cho!
    Nghe lời em gái, tháng 10 năm 1370, Trần Phủ cùng Trần
    Kính, Trần Nguyên Đán khởi binh chống Nhật Lễ ở Thanh Hóa.

    29

    Bấy giờ Nhật Lễ rất tin dùng Trần Ngô Lang vốn là cận thần
    của vua Dụ Tông ngày trước. Công chúa Thiên Ninh liền tìm
    cách gặp Ngô Lang nhắc lại tình nghĩa khi xưa với Dụ Tông để
    lôi kéo Ngô Lang theo phe Trần Phủ. Vì thế mỗi khi Nhật Lễ sai
    quan quân đi đánh dẹp các tôn thất họ Trần, Ngô Lang đều bí mật
    khuyên họ bỏ Nhật Lễ mà theo về với phe nổi dậy.

    30

    Một tháng sau, Trần Phủ được các tôn thất họ Trần tôn lên ngôi
    vua (tức Trần Nghệ Tông) và kéo quân về kinh đô. Nhật Lễ nghe
    theo lời khuyên của Trần Ngô Lang, bỏ hoàng bào ra tận bến Đông
    Bộ Đầu để đón cha vợ nhưng bị Nghệ Tông sai quân bắt giam ở
    phường Giang Khẩu (nay là khu vực phố Hàng Buồm, Hà Nội).
    Biết Ngô Lang làm phản, Nhật Lễ lập mưu giết Ngô Lang nên
    bị Nghệ Tông xử tội. Mẹ của Nhật Lễ tìm cách trốn sang Chiêm
    Thành lánh nạn.

    31

    Dưới thời Dụ Tông, ở Trung Quốc nhà Nguyên đã suy yếu, vì
    thế biên giới phía bắc của Đại Việt được yên ổn. Nhưng ở phía
    nam, nội tình Chiêm Thành có nhiều thay đổi. Sau khi Chế Năng
    bị Phạm Ngũ Lão đánh bại và chạy sang Java, Chế A Nan được
    lập lên ngôi. Chế A Nan thương yêu người con rể tên Trà Hoa Bố
    Để hơn con ruột là Chế Mỗ. Bố Để được giao chức vụ quan trọng
    trong triều nên ngầm tạo vây cánh và tìm mọi cách làm giảm uy
    tín của Chế Mỗ. Bởi vậy, năm 1342, khi Chế A Nan mất, Trà Hoa
    Bố Để dễ dàng cướp lấy ngôi báu.

    32

    Chế Mỗ khởi binh chống lại Bố Để suốt
    mười năm trời để giành lại ngôi vua nhưng
    cuối cùng bị thất bại, phải chạy sang Đại
    Việt cầu cứu. Vào năm 1353, Dụ Tông
    sai quân sang đánh Trà Hoa Bố Để và đưa
    Chế Mỗ về nước. Tuy nhiên quân Trần chỉ
    mới tiến đến Cổ Lũy (thuộc Quảng Ngãi)
    thì bị phục binh phải rút về.

    33

    Sau cuộc thất bại ấy của nhà Trần, Trà Hoa Bố Để thường cho
    quân kéo sang quấy rối ở Hóa châu, vùng đất Chế Mân nhường
    cho Đại Việt khi trước. Triều đình nhà Trần phải cử Trương Hán
    Siêu vào tổ chức việc phòng thủ ở vùng biên cương.

    34

    Khoảng năm 1360, Chế Bồng Nga nối ngôi Trà Hoa Bố Để.
    Năm sau Chế Bồng Nga cho quân vượt biển đánh vào tận vùng
    Bố Trạch, nằm sâu trong lãnh thổ Đại Việt (thuộc Quảng Bình
    ngày nay). Sau khi đốt phá, cướp lấy của cải, quân Chiêm lại theo
    đường thủy rút về.

    35

    Trong những năm sau đó, Chế Bồng Nga nhiều lần cho quân
    sang Đại Việt cướp phá vùng biên giới khiến nhà Trần chống đỡ
    rất vất vả. Ngang ngược hơn, Chế Bồng Nga còn sai sứ sang triều
    đình Thăng Long đòi lại đất Hóa châu mà năm xưa vua Chế Mân
    đã dâng cho vua Trần Anh Tông làm sính lễ.
    36

    Trước tình hình đó, Trần Dụ Tông phải sai Trần Thế Hưng và
    Đỗ Tử Bình chuẩn bị binh mã để tiến đánh Chiêm Thành. Mùa
    đông năm Đinh Mùi (1367), Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình rầm
    rộ xuất quân, nhưng quân Trần vừa đến Chiêm Động (tỉnh Quảng
    Nam ngày nay) thì bị quân Chiêm Thành phục kích. Bị bất ngờ,
    quân Trần không thể chống đỡ, Trần Thế Hưng bị bắt, Tử Bình
    phải rút quân về.

    37

    Năm sau, vua Dụ Tông mất, nhà Trần phải lo đối phó với Nhật
    Lễ. Đến năm 1371, nhân mẹ của Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành
    thông báo tình hình nước Đại Việt và xui đem quân sang đánh,
    Chế Bồng Nga lập tức cho thủy quân vượt biển tiến vào cửa Đại
    An (Nam Định). Quân Trần không phòng bị nên tan rã nhanh
    chóng. Thừa thắng, Chế Bồng Nga thúc quân tiến thẳng đến kinh
    đô Thăng Long.
    38

    Lúc bấy giờ quân đội nhà Trần đã quá suy yếu không ngăn
    chặn nổi quân Chiêm Thành. Vua quan nhà Trần vội vã chạy sang
    Đông Ngàn (thuộc Bắc Ninh ngày nay) để lánh nạn. Chế Bồng
    Nga cho quân tiến vào Thăng Long “dễ dàng như dạo chơi vậy”.
    Quân Chiêm Thành đốt trụi các cung điện, cướp của cải, vàng
    bạc, lụa là và bắt nhiều phụ nữ đem về nước.

    39

    Cung tuyên Đại vương Trần Kính, con thứ mười một của Trần
    Minh Tông và là em của Nghệ Tông, tập họp quân lính kéo về
    chiếm lại kinh đô. Sau khi trở về triều, Nghệ Tông phong cho
    Trần Kính làm Hoàng Thái tử và sau đó nhường ngôi cho Trần
    Kính để lên làm Thượng hoàng. Năm 1372, Trần Kính lên ngôi
    tức vua Trần Duệ Tông.

    40

    Lên ngôi lúc đất nước đang khó
    khăn, kinh thành vừa bị đốt phá, dân
    tình khốn khổ, trộm cướp nổi lên
    khắp nơi... lẽ ra Duệ Tông phải tập
    trung vào việc xây dựng, củng cố đất
    nước. Nhưng nhà vua chỉ chăm chăm
    vào mỗi một việc là chuẩn bị lực
    lượng để đánh Chiêm Thành. Vua
    cho thu gom lúa gạo và chuyển 5
    vạn thạch lương đến trữ ở Hóa châu
    dù nhân dân đang bị nạn đói đe dọa.

    41

    Đồng thời Duệ Tông cho bắt thêm lính, tăng thuế để có kinh
    phí đóng thêm nhiều chiến thuyền, bắt dân phải đi phu để sửa
    sang các con đường dẫn về phương nam nhằm chuyển quân được
    dễ dàng. Vì thế, dân tình đã khổ lại càng thêm khổ.

    42

    Trước tình hình đó, Ngự sử Trung tán Lê Tích dâng sớ can
    ngăn: “Việc binh là hung khí, không nên tự mình dấy việc can
    qua. Huống chi nay mới bình xong được loạn bên trong cũng như
    chỗ lở chưa lành. Nhà vua không nên lấy tức giận của riêng mình
    mà hưng binh, tướng võ không thể cầu công trạng mà đánh càn”.
    Nhưng lời can gián đó chẳng được Duệ Tông để ý.

    43

    Vợ vua Duệ Tông là bà Từ phi Bích Châu
    vốn được vua sủng ái vì rất giỏi ca hát, thơ
    văn. Trước đây, thấy chính sự rối ren, bà đã
    viết “Kê minh Thập sách” dâng lên cho chồng
    10 kế sách để trị quốc, an dân nhưng không
    được thực hiện. Nay bà lại đứng về phía các
    vị đại thần, hết lòng khuyên nhà vua bãi binh
    nhưng Duệ Tông vẫn không đổi ý. Ngự sử Đại
    phu là Trương Đỗ cũng đã ba lần dâng sớ can
    ngăn mà vua chẳng chịu nghe nên đành treo
    ấn từ quan.

    44

    Lúc ấy Đỗ Tử Bình đang giữ chức trấn thủ Hóa
    châu, vùng đất tiếp giáp với Chiêm Thành. Y là
    kẻ tham lam, khi Chế Bồng Nga biết vua Trần
    chuẩn bị động binh, vội sai sứ đem mười mâm
    vàng sang dâng để tỏ ý quy phục, y lấy cả giấu làm
    của riêng rồi tâu đối với Duệ Tông là vua Chiêm
    Thành ngạo mạn, chẳng chịu nạp cống, cần phải
    cất quân đi chinh phạt. Lời tâu đó hạp với ý định
    của Duệ Tông càng làm nhà vua nhất quyết tiến
    đánh Chiêm Thành.

    45

    46

    Tháng chạp năm Bính Thìn (1376), Duệ Tông làm lễ xuất quân,
    sau đó đích thân đem 12 vạn quân thủy bộ kéo về phương nam.
    Nàng Bích Châu cũng xin đi theo để hầu hạ nhà vua. Lê Quý Ly,
    là anh em họ ngoại của vua, được thăng chức Tham mưu Quân
    sự và lo việc đốc thúc dân Nghệ An, Tân Bình, Thuận châu, Hóa
    châu vận chuyển lương thực tiếp tế cho đoàn quân viễn chinh. Đỗ
    Tử Bình được giao chỉ huy hậu quân để phối hợp cùng tiền quân
    của nhà vua.
    47

    Tương truyền, quân của Duệ Tông vào đến huyện Kỳ Anh (Hà
    Tĩnh) thì gặp mưa to gió lớn, thuyền không tài nào tiến lên được.
    Nghe dân gian quanh vùng nói đó là do Hà Bá đòi cống một người
    con gái, nàng Bích Châu tự nguyện hiến mình để sóng yên biển
    lặng. Nhờ đó, nhà vua dẫn quân kéo vào đến cửa Nhật Lệ (Đồng
    Hới, Quảng Bình) không gặp trở ngại gì. Vua cho dừng quân ở
    đây hơn một tháng để hai cánh quân thủy bộ phối hợp với nhau
    mà tập luyện.

    48
     
    Gửi ý kiến

    THÍCH ĐỌC SÁCH TỨC LÀ BIẾN ĐỔI NHỮNG GIỜ PHÚT BUỒN TẺ KHÔNG THỂ TRÁNH KHỎI TRONG CUỘC SỐNG THÀNH NHỮNG GIỜ PHÚT LÍ THÚ