Văn hóa đọc trong thời đại số
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
LSVN bằng tranh tập 27

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Ngần Thị Thoan
Ngày gửi: 17h:38' 15-03-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Ngần Thị Thoan
Ngày gửi: 17h:38' 15-03-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ mười một
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lương Định Quốc
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
Đồ họa vi tính: Tú Bình
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nhà Trần suy vong/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Lê Văn Năm biên soạn; họa sĩ Nguyễn
Quang Vinh Tái bản lần thứ 11 TP. Hồ Chí Minh; Trẻ, 2013
104 tr.; 20cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.27)
1. Việt Nam Lịch sử Triều nhà Trần, 12251400 Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê
Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam History Trần dynasty, 12251400 Pictorial works.
959.7024 — dc 22
N577
LỜI GIỚI THIỆU
Sau những tháng ngày hưng thịnh, triều Trần dần đi
vào con đường suy vong. Tầng lớp quý tộc lợi dụng quyền
thế chiếm đoạt đất đai của dân, mở rộng điền trang, thái
ấp. Vua chuộng việc ăn chơi, thích kẻ dua nịnh. Người tài
giỏi, cương trực dần vắng bóng trong triều. Cuộc sống
của dân chúng trở nên lầm than, cơ cực.
Các vua Trần chủ trương phát động chiến tranh với
lân bang để củng cố nền thống trị trong nước và đề cao
uy thế với nước ngoài. Thế nhưng giờ đây lực lượng nhà
Trần đã suy yếu, không còn chống đỡ nổi những cuộc tấn
công của Chiêm Thành. Sự suy sụp ấy càng nhanh chóng
hơn bởi tranh chấp ngay trong triều đình nhà Trần.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 27 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Nhà Trần suy vong”
phần lời do Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Quang Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 27 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Vận trời xưa nay, thịnh tất đến suy. Từ vua Trần Dụ
Tông, nhà Trần dần đi vào suy vong. Vua mê đắm tửu
sắc, tin dùng nịnh thần lại không có bậc tôi hiền gắng sức,
nên suy vong là chuyện hiển nhiên.
Vua Duệ Tông lại chẳng biết khoan sức dân, dốc hết
tinh lực ít ỏi của nước nhà vào việc chinh phạt. Việc không
thành, sức dân cạn kiệt, khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp
nơi. Đó cũng chính là thời cơ cho nhà Hồ chuyên quyền
và lên ngôi.
4
Trần Hiến Tông mất sớm, không con nối ngôi. Thượng hoàng
Minh Tông lập Trần Hạo, người con thứ mười của mình lên làm
vua tức Trần Dụ Tông. Khi ấy Dụ Tông mới 6 tuổi nên thực tế
mọi việc triều chính đều do Thượng Hoàng Minh Tông lo liệu.
Vì thế, việc triều chính vẫn giữ được nề nếp cũ. Nhưng vào năm
1357, Thượng hoàng băng hà, Dụ Tông tự trông coi việc nước.
Từ đó, việc triều chính trở nên rối loạn.
5
Dụ Tông ưa thích những kẻ dua nịnh nên trong triều nên bọn
gian thần ngày càng đông. Chúng nhờ vào việc nịnh hót mà được
vua tin yêu, cất nhắc vào những chức vụ quan trọng. Công việc
của triều đình dần dần bị bọn này chi phối.
6
Dụ Tông bỏ bê việc triều
chính, suốt ngày mải ăn chơi,
hát xướng. Để có nhiều tuồng
hát mới và các trò vui cho những
buổi trình diễn tổ chức thường
xuyên tại cung đình, Dụ Tông
ra lệnh cho các vương hầu, công
chúa phải soạn tuồng hát hoặc
nghĩ ra các trò tạp diễn để dâng
lên cho vua duyệt xét. Tuồng
hay, trò hay sẽ được ban thưởng
hậu hĩ.
7
Các vua đầu triều Trần nghiêm cấm đánh bạc, nhưng đến đời
Dụ Tông thì khác hẳn. Dụ Tông rất mê bài bạc. Nhà vua cho gọi
những người giàu có trong nước vào cung đánh bạc cho vui. Nhiều
cự phú ở làng Đình Bảng (thuộc Bắc Ninh), làng Đình Nga (thuộc
Quốc Oai, Hà Nội ngày nay) là những tay cờ bạc thường lui tới
cung vua đánh bạc thâu đêm suốt sáng. Số tiền đặt trong các ván
bạc rất lớn, có khi lên đến 300 quan.
8
Hết bài bạc lại rượu chè, để làm trò vui, Dụ Tông còn cho các
quan cùng nhau uống rượu thi, ai uống nhiều hơn thì được thăng
phẩm trật. Bọn quan lại thối nát lợi dụng cơ hội này để thăng quan
tiến chức. Có lần, viên quan tên Bùi Khoan lập mẹo vờ uống được
100 thưng rượu. Dụ Tông thích lắm, thưởng cho y được thăng hai
trật một lúc.
9
Bấy giờ có Chu Văn An đang giữ chức Tư nghiệp Quốc tử
giám vốn là một nhà Nho, nhà giáo nổi tiếng thẳng thắn, thanh
liêm. Ông quê ở xã Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt thuộc huyện
Thanh Trì, Hà Nội) bên dòng sông Tô Lịch nước quanh năm trong
mát. Đôi bên bờ sông là những vườn lệ chi xanh tươi, với những
chùm quả trĩu cành, thơm ngon hiếm có.
10
Khi còn tuổi trẻ, Chu Văn An đã nổi tiếng là người có học vấn
uyên thâm. Nhưng chẳng màng đến danh lợi nên ông không tham
dự các kỳ thi triều đình vẫn tổ chức để tuyển chọn người ra làm
quan mà chỉ thích ở nhà đọc sách, ngâm vịnh. Nơi ông ở được
dân chúng trong vùng gọi là thôn Văn.
11
Chu Văn An chọn một khu đất cao bên một cái đầm lớn giữa
cánh đồng để mở trường dạy học. Ông tuy rất nghiêm khắc nhưng
cũng rất hiểu tính tình và tài năng của từng học trò để kèm cặp
dạy dỗ một cách chu đáo. Vì thế, danh tiếng của ông xa gần đều
biết. Người xin theo học rất đông.
12
Trong số môn đệ của ông, sau này nhiều người thành đạt làm
quan trong triều. Có người giữ những chức vụ quan trọng, chẳng
hạn như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát. Học trò ông, dù làm quan to,
khi về thăm thầy đều giữ lễ, quỳ lạy bên giường rất mực cung kính
và tỏ ra rất mừng khi được thầy trò chuyện ít câu. Nhưng người
nào làm điều không tốt vẫn bị ông quở mắng, thậm chí còn đuổi
đi, không cho vào gặp.
13
Dưới thời Minh Tông, nghe tiếng về đạo
đức và tài học của Chu Văn An, nhà vua cho
vời ông về triều trao cho chức Tư nghiệp ở
Quốc tử giám, ngôi trường quan trọng nhất
trong nước thời ấy, đồng thời giao cho việc
dạy dỗ Thái tử Trần Vượng. Chu Văn An đã
đem hết tâm huyết truyền dạy cho Thái tử với
hy vọng sau này Trần Vượng sẽ là một vị vua
anh minh.
14
Cho nên, dưới triều
Hiến Tông, triều chính
vẫn ổn định, mọi việc
giữ được nếp cũ nhờ có
Chu Văn An và nhiều
vị quan tài giỏi khác
như Mạc Đĩnh Chi, Lê
Quát, Phạm Sư Mạnh
và Nguyễn Trung Ngạn
v.v... hết lòng trông coi
việc nước. Tuy nhiên,
vua Hiến Tông mất
sớm, sau đó Thượng
hoàng cũng băng hà,
việc nước ngày càng
trở nên rối loạn bởi
những trò ăn chơi sa
đọa của Dụ Tông. Các
vị quan tài giỏi, có đức
độ không còn được vua
tin dùng như trước.
15
Không đành tâm nhìn đất nước mỗi ngày một suy vong do sai
lầm của Dụ Tông và sự lộng hành của bọn gian thần, Chu Văn
An hết lòng khuyên can nhà vua. Nhưng Dụ Tông vẫn chứng nào
tật ấy, bỏ ngoài tai tất cả những lời tâm huyết của Chu Văn An.
16
Cuối cùng, Chu Văn An viết một tờ
sớ dâng lên vua với lời lẽ quyết liệt kể
tội bọn gian nịnh làm đất nước suy sụp
và xin vua cho chém ngay bảy tên đầu
sỏ. Đó là những tên có nhiều quyền thế
và được Dụ Tông hết lòng tin yêu. Việc
làm đó cho thấy Chu Văn An là người
rất cương trực và dũng cảm, không sợ
bọn gian thần thù oán, hãm hại.
17
Thất trảm sớ dâng lên nhưng không được
nhà vua trả lời. Thấy không thể lay chuyển
Dụ Tông, Chu Văn An quyết rời quan trường.
Đấy cũng là cách cuối cùng ông muốn làm
để cảnh tỉnh Dụ Tông. Chu Văn An liền từ
quan, treo mũ áo ở cửa Huyền Vũ (tức cửa
bắc hoàng thành) rồi về vùng núi Chí Linh,
một nơi có phong cảnh kỳ thú (thuộc Hải
Dương ngày nay) ở ẩn.
18
Chu Văn An làm nhà ở
trên núi Phượng, lấy hiệu là
Tiều Ẩn. Ngoài việc dạy học, ông
thường đi khắp nơi ngắm cảnh đẹp và làm
thơ ngâm vịnh. Một lần đi qua Giang Đình, ông
đã ghi lại xúc cảm của mình:
Giang Đình mãi đứng đếm thuyền câu
Gió gấp bên ghềnh gợi cảnh thu.
Nắng xế hồng phai thi hứng cạn,
Trời chiều xanh biếc, cảnh vui đâu.
Công danh trót lạc vào hư ảo,
Hồ hải rong chơi, bớt nỗi sầu.
Đi, lại tự mình nào sá quản,
Sóng xanh vạn khoảnh cánh chim âu.
Đào Thái Tôn dịch (theo Thơ văn Lý Trần)
19
Sau khi Chu Văn An đi rồi, không còn ai ngăn cản, Dụ Tông
càng mặc sức ăn chơi. Vào mùa đông năm 1363, Dụ Tông sai đào
hồ trong vườn ngự uyển. Trong hồ, xếp đá giả sơn và khai ngòi
bốn phía cho nước chảy thông nhau. Cạnh hồ là hoa viên trồng
các loại thông, tre và trăm thứ hoa thơm cỏ lạ.
20
Vua cũng sai người đi khắp nơi tìm các loại chim quý, thú lạ
về nuôi trong vườn. Cạnh hồ, Dụ Tông cho cất một tòa lầu rực
rỡ. Đấy là nơi nhà vua thường cùng đám cận thần dua nịnh của
mình đến vui chơi, bài bạc, chè chén và xem cung nữ múa hát.
21
Gần đấy, Dụ Tông lại sai đào một cái hồ khác nhỏ hơn. Dân
chúng Hải Đông phải vất vả chở nước từ biển vào đổ đầy hồ.
Trong khi đó, dân các vùng ven biển phải nhọc công tìm các loài
cá lạ, các loại sinh vật biển cùng cá sấu chở đến nuôi trong hồ
cho vua thưởng ngoạn.
22
Dụ Tông cũng thường ra khỏi kinh thành, nhưng không phải
để xem xét dân tình mà để đến nhà các quan lại thân cận bày các
cuộc vui. Một hôm nhà vua đi thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy
Trần Ngô Lang ở Mễ Sở (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay) đến nửa
đêm. Lúc trở về Dụ Tông bị bọn cướp chặn lấy mất cả ấn và gươm
báu. Tin rằng đấy là điềm xấu báo trước mình sẽ không sống lâu,
vua càng lao mình vào các cuộc ăn chơi.
23
Năm 1369, Dụ Tông lâm bệnh nặng, vì không
có con nên lúc sắp mất, vua xuống chiếu truyền
ngôi cho Nhật Lễ. Nguyên trước đây có một
đào hát rất đẹp, vợ của một người làm trò tên
Dương Khương, thường đóng vai Vương mẫu
trong tuồng “Vương Mẫu hiến bàn đào”. Anh
cả của Dụ Tông là Cung túc Đại vương Trần
Dục say mê nhan sắc của nàng nên bắt Dương
Khương phải nhường vợ cho mình. Lúc đó nàng
đã có mang với Dương Khương, sau đó sinh ra
Nhật Lễ.
24
Triều đình và nhiều tôn thất nhà Trần không tán thành việc
truyền ngôi cho Nhật Lễ và muốn lập người anh của Dụ Tông là
Cung Định vương lên ngôi. Nhưng Hiến Từ Hoàng Thái hậu (vợ
của Thượng hoàng Minh Tông đã mất) bảo:
- Trần Dục là con đích trưởng, lại mất sớm, không được nối
ngôi vua. Nhật Lễ không phải là con của Dục đó sao?
Và bà cho người đi đón Nhật Lễ vào cung.
25
Lên ngôi vua rồi Nhật Lễ cũng chẳng màng gì đến việc nước,
suốt ngày chỉ cùng bọn cận thần dua nịnh vui chơi, tổ chức yến
tiệc, hát xướng. Các tôn thất nhà Trần và quan lại mong muốn có
được một vị minh quân đều thất vọng, nhất là Thái hậu Hiến Từ.
Bà hối tiếc vì đã có quyết định sai lầm giúp Nhật Lễ lên ngôi nên
thường than thở với những người trong cung. Nhật Lễ nghe được
căm giận lắm, sai người lén đánh thuốc độc giết Thái hậu.
26
Nhật Lễ còn định bỏ họ Trần lấy lại họ Dương, tức họ cha ruột
của mình. Để thực hiện dự tính đó, Nhật Lễ tìm cách diệt trừ tôn
thất họ Trần, nhất là những người có danh vọng hoặc đang nắm
chức vụ quan trọng trong triều. Trước tình hình đó, một số tôn thất
họ Trần hợp sức với nhau để tính kế giết Nhật Lễ nhưng không
thành. Mười tám người tham gia việc này đều bị giết hại.
27
Trần Phủ, con trai thứ ba của Trần Minh Tông, vốn là một người
nhu nhược. Tuy có con gái làm hoàng hậu của Nhật Lễ nhưng
thấy Nhật Lễ cho quân lùng bắt các tôn thất nhà Trần, Trần Phủ
sợ vạ lây đến mình nên thu xếp đồ đạc, cùng gia quyến định lánh
ra trấn Đà Giang để tìm chỗ ẩn thân.
28
Biết chuyện ấy, em gái Trần Phủ là công chúa Thiên Ninh cố
gắng thuyết phục anh:
- Thiên hạ là của tổ tông mình, sao lại vứt bỏ nước cho kẻ
khác? Anh phải đứng ra chiêu tập nghĩa sĩ diệt Nhật Lễ để lấy lại
ngôi báu. Em sẽ đem bọn gia nô làm nội ứng cho!
Nghe lời em gái, tháng 10 năm 1370, Trần Phủ cùng Trần
Kính, Trần Nguyên Đán khởi binh chống Nhật Lễ ở Thanh Hóa.
29
Bấy giờ Nhật Lễ rất tin dùng Trần Ngô Lang vốn là cận thần
của vua Dụ Tông ngày trước. Công chúa Thiên Ninh liền tìm
cách gặp Ngô Lang nhắc lại tình nghĩa khi xưa với Dụ Tông để
lôi kéo Ngô Lang theo phe Trần Phủ. Vì thế mỗi khi Nhật Lễ sai
quan quân đi đánh dẹp các tôn thất họ Trần, Ngô Lang đều bí mật
khuyên họ bỏ Nhật Lễ mà theo về với phe nổi dậy.
30
Một tháng sau, Trần Phủ được các tôn thất họ Trần tôn lên ngôi
vua (tức Trần Nghệ Tông) và kéo quân về kinh đô. Nhật Lễ nghe
theo lời khuyên của Trần Ngô Lang, bỏ hoàng bào ra tận bến Đông
Bộ Đầu để đón cha vợ nhưng bị Nghệ Tông sai quân bắt giam ở
phường Giang Khẩu (nay là khu vực phố Hàng Buồm, Hà Nội).
Biết Ngô Lang làm phản, Nhật Lễ lập mưu giết Ngô Lang nên
bị Nghệ Tông xử tội. Mẹ của Nhật Lễ tìm cách trốn sang Chiêm
Thành lánh nạn.
31
Dưới thời Dụ Tông, ở Trung Quốc nhà Nguyên đã suy yếu, vì
thế biên giới phía bắc của Đại Việt được yên ổn. Nhưng ở phía
nam, nội tình Chiêm Thành có nhiều thay đổi. Sau khi Chế Năng
bị Phạm Ngũ Lão đánh bại và chạy sang Java, Chế A Nan được
lập lên ngôi. Chế A Nan thương yêu người con rể tên Trà Hoa Bố
Để hơn con ruột là Chế Mỗ. Bố Để được giao chức vụ quan trọng
trong triều nên ngầm tạo vây cánh và tìm mọi cách làm giảm uy
tín của Chế Mỗ. Bởi vậy, năm 1342, khi Chế A Nan mất, Trà Hoa
Bố Để dễ dàng cướp lấy ngôi báu.
32
Chế Mỗ khởi binh chống lại Bố Để suốt
mười năm trời để giành lại ngôi vua nhưng
cuối cùng bị thất bại, phải chạy sang Đại
Việt cầu cứu. Vào năm 1353, Dụ Tông
sai quân sang đánh Trà Hoa Bố Để và đưa
Chế Mỗ về nước. Tuy nhiên quân Trần chỉ
mới tiến đến Cổ Lũy (thuộc Quảng Ngãi)
thì bị phục binh phải rút về.
33
Sau cuộc thất bại ấy của nhà Trần, Trà Hoa Bố Để thường cho
quân kéo sang quấy rối ở Hóa châu, vùng đất Chế Mân nhường
cho Đại Việt khi trước. Triều đình nhà Trần phải cử Trương Hán
Siêu vào tổ chức việc phòng thủ ở vùng biên cương.
34
Khoảng năm 1360, Chế Bồng Nga nối ngôi Trà Hoa Bố Để.
Năm sau Chế Bồng Nga cho quân vượt biển đánh vào tận vùng
Bố Trạch, nằm sâu trong lãnh thổ Đại Việt (thuộc Quảng Bình
ngày nay). Sau khi đốt phá, cướp lấy của cải, quân Chiêm lại theo
đường thủy rút về.
35
Trong những năm sau đó, Chế Bồng Nga nhiều lần cho quân
sang Đại Việt cướp phá vùng biên giới khiến nhà Trần chống đỡ
rất vất vả. Ngang ngược hơn, Chế Bồng Nga còn sai sứ sang triều
đình Thăng Long đòi lại đất Hóa châu mà năm xưa vua Chế Mân
đã dâng cho vua Trần Anh Tông làm sính lễ.
36
Trước tình hình đó, Trần Dụ Tông phải sai Trần Thế Hưng và
Đỗ Tử Bình chuẩn bị binh mã để tiến đánh Chiêm Thành. Mùa
đông năm Đinh Mùi (1367), Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình rầm
rộ xuất quân, nhưng quân Trần vừa đến Chiêm Động (tỉnh Quảng
Nam ngày nay) thì bị quân Chiêm Thành phục kích. Bị bất ngờ,
quân Trần không thể chống đỡ, Trần Thế Hưng bị bắt, Tử Bình
phải rút quân về.
37
Năm sau, vua Dụ Tông mất, nhà Trần phải lo đối phó với Nhật
Lễ. Đến năm 1371, nhân mẹ của Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành
thông báo tình hình nước Đại Việt và xui đem quân sang đánh,
Chế Bồng Nga lập tức cho thủy quân vượt biển tiến vào cửa Đại
An (Nam Định). Quân Trần không phòng bị nên tan rã nhanh
chóng. Thừa thắng, Chế Bồng Nga thúc quân tiến thẳng đến kinh
đô Thăng Long.
38
Lúc bấy giờ quân đội nhà Trần đã quá suy yếu không ngăn
chặn nổi quân Chiêm Thành. Vua quan nhà Trần vội vã chạy sang
Đông Ngàn (thuộc Bắc Ninh ngày nay) để lánh nạn. Chế Bồng
Nga cho quân tiến vào Thăng Long “dễ dàng như dạo chơi vậy”.
Quân Chiêm Thành đốt trụi các cung điện, cướp của cải, vàng
bạc, lụa là và bắt nhiều phụ nữ đem về nước.
39
Cung tuyên Đại vương Trần Kính, con thứ mười một của Trần
Minh Tông và là em của Nghệ Tông, tập họp quân lính kéo về
chiếm lại kinh đô. Sau khi trở về triều, Nghệ Tông phong cho
Trần Kính làm Hoàng Thái tử và sau đó nhường ngôi cho Trần
Kính để lên làm Thượng hoàng. Năm 1372, Trần Kính lên ngôi
tức vua Trần Duệ Tông.
40
Lên ngôi lúc đất nước đang khó
khăn, kinh thành vừa bị đốt phá, dân
tình khốn khổ, trộm cướp nổi lên
khắp nơi... lẽ ra Duệ Tông phải tập
trung vào việc xây dựng, củng cố đất
nước. Nhưng nhà vua chỉ chăm chăm
vào mỗi một việc là chuẩn bị lực
lượng để đánh Chiêm Thành. Vua
cho thu gom lúa gạo và chuyển 5
vạn thạch lương đến trữ ở Hóa châu
dù nhân dân đang bị nạn đói đe dọa.
41
Đồng thời Duệ Tông cho bắt thêm lính, tăng thuế để có kinh
phí đóng thêm nhiều chiến thuyền, bắt dân phải đi phu để sửa
sang các con đường dẫn về phương nam nhằm chuyển quân được
dễ dàng. Vì thế, dân tình đã khổ lại càng thêm khổ.
42
Trước tình hình đó, Ngự sử Trung tán Lê Tích dâng sớ can
ngăn: “Việc binh là hung khí, không nên tự mình dấy việc can
qua. Huống chi nay mới bình xong được loạn bên trong cũng như
chỗ lở chưa lành. Nhà vua không nên lấy tức giận của riêng mình
mà hưng binh, tướng võ không thể cầu công trạng mà đánh càn”.
Nhưng lời can gián đó chẳng được Duệ Tông để ý.
43
Vợ vua Duệ Tông là bà Từ phi Bích Châu
vốn được vua sủng ái vì rất giỏi ca hát, thơ
văn. Trước đây, thấy chính sự rối ren, bà đã
viết “Kê minh Thập sách” dâng lên cho chồng
10 kế sách để trị quốc, an dân nhưng không
được thực hiện. Nay bà lại đứng về phía các
vị đại thần, hết lòng khuyên nhà vua bãi binh
nhưng Duệ Tông vẫn không đổi ý. Ngự sử Đại
phu là Trương Đỗ cũng đã ba lần dâng sớ can
ngăn mà vua chẳng chịu nghe nên đành treo
ấn từ quan.
44
Lúc ấy Đỗ Tử Bình đang giữ chức trấn thủ Hóa
châu, vùng đất tiếp giáp với Chiêm Thành. Y là
kẻ tham lam, khi Chế Bồng Nga biết vua Trần
chuẩn bị động binh, vội sai sứ đem mười mâm
vàng sang dâng để tỏ ý quy phục, y lấy cả giấu làm
của riêng rồi tâu đối với Duệ Tông là vua Chiêm
Thành ngạo mạn, chẳng chịu nạp cống, cần phải
cất quân đi chinh phạt. Lời tâu đó hạp với ý định
của Duệ Tông càng làm nhà vua nhất quyết tiến
đánh Chiêm Thành.
45
46
Tháng chạp năm Bính Thìn (1376), Duệ Tông làm lễ xuất quân,
sau đó đích thân đem 12 vạn quân thủy bộ kéo về phương nam.
Nàng Bích Châu cũng xin đi theo để hầu hạ nhà vua. Lê Quý Ly,
là anh em họ ngoại của vua, được thăng chức Tham mưu Quân
sự và lo việc đốc thúc dân Nghệ An, Tân Bình, Thuận châu, Hóa
châu vận chuyển lương thực tiếp tế cho đoàn quân viễn chinh. Đỗ
Tử Bình được giao chỉ huy hậu quân để phối hợp cùng tiền quân
của nhà vua.
47
Tương truyền, quân của Duệ Tông vào đến huyện Kỳ Anh (Hà
Tĩnh) thì gặp mưa to gió lớn, thuyền không tài nào tiến lên được.
Nghe dân gian quanh vùng nói đó là do Hà Bá đòi cống một người
con gái, nàng Bích Châu tự nguyện hiến mình để sóng yên biển
lặng. Nhờ đó, nhà vua dẫn quân kéo vào đến cửa Nhật Lệ (Đồng
Hới, Quảng Bình) không gặp trở ngại gì. Vua cho dừng quân ở
đây hơn một tháng để hai cánh quân thủy bộ phối hợp với nhau
mà tập luyện.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lương Định Quốc
Biên tập hình ảnh: Tô Hoài Đạt
Đồ họa vi tính: Tú Bình
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Nhà Trần suy vong/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Lê Văn Năm biên soạn; họa sĩ Nguyễn
Quang Vinh Tái bản lần thứ 11 TP. Hồ Chí Minh; Trẻ, 2013
104 tr.; 20cm. (Lịch sử Việt Nam bằng tranh; T.27)
1. Việt Nam Lịch sử Triều nhà Trần, 12251400 Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Lê
Văn Năm. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam History Trần dynasty, 12251400 Pictorial works.
959.7024 — dc 22
N577
LỜI GIỚI THIỆU
Sau những tháng ngày hưng thịnh, triều Trần dần đi
vào con đường suy vong. Tầng lớp quý tộc lợi dụng quyền
thế chiếm đoạt đất đai của dân, mở rộng điền trang, thái
ấp. Vua chuộng việc ăn chơi, thích kẻ dua nịnh. Người tài
giỏi, cương trực dần vắng bóng trong triều. Cuộc sống
của dân chúng trở nên lầm than, cơ cực.
Các vua Trần chủ trương phát động chiến tranh với
lân bang để củng cố nền thống trị trong nước và đề cao
uy thế với nước ngoài. Thế nhưng giờ đây lực lượng nhà
Trần đã suy yếu, không còn chống đỡ nổi những cuộc tấn
công của Chiêm Thành. Sự suy sụp ấy càng nhanh chóng
hơn bởi tranh chấp ngay trong triều đình nhà Trần.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 27 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Nhà Trần suy vong”
phần lời do Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do
Nguyễn Quang Vinh thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 27 của
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
Vận trời xưa nay, thịnh tất đến suy. Từ vua Trần Dụ
Tông, nhà Trần dần đi vào suy vong. Vua mê đắm tửu
sắc, tin dùng nịnh thần lại không có bậc tôi hiền gắng sức,
nên suy vong là chuyện hiển nhiên.
Vua Duệ Tông lại chẳng biết khoan sức dân, dốc hết
tinh lực ít ỏi của nước nhà vào việc chinh phạt. Việc không
thành, sức dân cạn kiệt, khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp
nơi. Đó cũng chính là thời cơ cho nhà Hồ chuyên quyền
và lên ngôi.
4
Trần Hiến Tông mất sớm, không con nối ngôi. Thượng hoàng
Minh Tông lập Trần Hạo, người con thứ mười của mình lên làm
vua tức Trần Dụ Tông. Khi ấy Dụ Tông mới 6 tuổi nên thực tế
mọi việc triều chính đều do Thượng Hoàng Minh Tông lo liệu.
Vì thế, việc triều chính vẫn giữ được nề nếp cũ. Nhưng vào năm
1357, Thượng hoàng băng hà, Dụ Tông tự trông coi việc nước.
Từ đó, việc triều chính trở nên rối loạn.
5
Dụ Tông ưa thích những kẻ dua nịnh nên trong triều nên bọn
gian thần ngày càng đông. Chúng nhờ vào việc nịnh hót mà được
vua tin yêu, cất nhắc vào những chức vụ quan trọng. Công việc
của triều đình dần dần bị bọn này chi phối.
6
Dụ Tông bỏ bê việc triều
chính, suốt ngày mải ăn chơi,
hát xướng. Để có nhiều tuồng
hát mới và các trò vui cho những
buổi trình diễn tổ chức thường
xuyên tại cung đình, Dụ Tông
ra lệnh cho các vương hầu, công
chúa phải soạn tuồng hát hoặc
nghĩ ra các trò tạp diễn để dâng
lên cho vua duyệt xét. Tuồng
hay, trò hay sẽ được ban thưởng
hậu hĩ.
7
Các vua đầu triều Trần nghiêm cấm đánh bạc, nhưng đến đời
Dụ Tông thì khác hẳn. Dụ Tông rất mê bài bạc. Nhà vua cho gọi
những người giàu có trong nước vào cung đánh bạc cho vui. Nhiều
cự phú ở làng Đình Bảng (thuộc Bắc Ninh), làng Đình Nga (thuộc
Quốc Oai, Hà Nội ngày nay) là những tay cờ bạc thường lui tới
cung vua đánh bạc thâu đêm suốt sáng. Số tiền đặt trong các ván
bạc rất lớn, có khi lên đến 300 quan.
8
Hết bài bạc lại rượu chè, để làm trò vui, Dụ Tông còn cho các
quan cùng nhau uống rượu thi, ai uống nhiều hơn thì được thăng
phẩm trật. Bọn quan lại thối nát lợi dụng cơ hội này để thăng quan
tiến chức. Có lần, viên quan tên Bùi Khoan lập mẹo vờ uống được
100 thưng rượu. Dụ Tông thích lắm, thưởng cho y được thăng hai
trật một lúc.
9
Bấy giờ có Chu Văn An đang giữ chức Tư nghiệp Quốc tử
giám vốn là một nhà Nho, nhà giáo nổi tiếng thẳng thắn, thanh
liêm. Ông quê ở xã Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt thuộc huyện
Thanh Trì, Hà Nội) bên dòng sông Tô Lịch nước quanh năm trong
mát. Đôi bên bờ sông là những vườn lệ chi xanh tươi, với những
chùm quả trĩu cành, thơm ngon hiếm có.
10
Khi còn tuổi trẻ, Chu Văn An đã nổi tiếng là người có học vấn
uyên thâm. Nhưng chẳng màng đến danh lợi nên ông không tham
dự các kỳ thi triều đình vẫn tổ chức để tuyển chọn người ra làm
quan mà chỉ thích ở nhà đọc sách, ngâm vịnh. Nơi ông ở được
dân chúng trong vùng gọi là thôn Văn.
11
Chu Văn An chọn một khu đất cao bên một cái đầm lớn giữa
cánh đồng để mở trường dạy học. Ông tuy rất nghiêm khắc nhưng
cũng rất hiểu tính tình và tài năng của từng học trò để kèm cặp
dạy dỗ một cách chu đáo. Vì thế, danh tiếng của ông xa gần đều
biết. Người xin theo học rất đông.
12
Trong số môn đệ của ông, sau này nhiều người thành đạt làm
quan trong triều. Có người giữ những chức vụ quan trọng, chẳng
hạn như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát. Học trò ông, dù làm quan to,
khi về thăm thầy đều giữ lễ, quỳ lạy bên giường rất mực cung kính
và tỏ ra rất mừng khi được thầy trò chuyện ít câu. Nhưng người
nào làm điều không tốt vẫn bị ông quở mắng, thậm chí còn đuổi
đi, không cho vào gặp.
13
Dưới thời Minh Tông, nghe tiếng về đạo
đức và tài học của Chu Văn An, nhà vua cho
vời ông về triều trao cho chức Tư nghiệp ở
Quốc tử giám, ngôi trường quan trọng nhất
trong nước thời ấy, đồng thời giao cho việc
dạy dỗ Thái tử Trần Vượng. Chu Văn An đã
đem hết tâm huyết truyền dạy cho Thái tử với
hy vọng sau này Trần Vượng sẽ là một vị vua
anh minh.
14
Cho nên, dưới triều
Hiến Tông, triều chính
vẫn ổn định, mọi việc
giữ được nếp cũ nhờ có
Chu Văn An và nhiều
vị quan tài giỏi khác
như Mạc Đĩnh Chi, Lê
Quát, Phạm Sư Mạnh
và Nguyễn Trung Ngạn
v.v... hết lòng trông coi
việc nước. Tuy nhiên,
vua Hiến Tông mất
sớm, sau đó Thượng
hoàng cũng băng hà,
việc nước ngày càng
trở nên rối loạn bởi
những trò ăn chơi sa
đọa của Dụ Tông. Các
vị quan tài giỏi, có đức
độ không còn được vua
tin dùng như trước.
15
Không đành tâm nhìn đất nước mỗi ngày một suy vong do sai
lầm của Dụ Tông và sự lộng hành của bọn gian thần, Chu Văn
An hết lòng khuyên can nhà vua. Nhưng Dụ Tông vẫn chứng nào
tật ấy, bỏ ngoài tai tất cả những lời tâm huyết của Chu Văn An.
16
Cuối cùng, Chu Văn An viết một tờ
sớ dâng lên vua với lời lẽ quyết liệt kể
tội bọn gian nịnh làm đất nước suy sụp
và xin vua cho chém ngay bảy tên đầu
sỏ. Đó là những tên có nhiều quyền thế
và được Dụ Tông hết lòng tin yêu. Việc
làm đó cho thấy Chu Văn An là người
rất cương trực và dũng cảm, không sợ
bọn gian thần thù oán, hãm hại.
17
Thất trảm sớ dâng lên nhưng không được
nhà vua trả lời. Thấy không thể lay chuyển
Dụ Tông, Chu Văn An quyết rời quan trường.
Đấy cũng là cách cuối cùng ông muốn làm
để cảnh tỉnh Dụ Tông. Chu Văn An liền từ
quan, treo mũ áo ở cửa Huyền Vũ (tức cửa
bắc hoàng thành) rồi về vùng núi Chí Linh,
một nơi có phong cảnh kỳ thú (thuộc Hải
Dương ngày nay) ở ẩn.
18
Chu Văn An làm nhà ở
trên núi Phượng, lấy hiệu là
Tiều Ẩn. Ngoài việc dạy học, ông
thường đi khắp nơi ngắm cảnh đẹp và làm
thơ ngâm vịnh. Một lần đi qua Giang Đình, ông
đã ghi lại xúc cảm của mình:
Giang Đình mãi đứng đếm thuyền câu
Gió gấp bên ghềnh gợi cảnh thu.
Nắng xế hồng phai thi hứng cạn,
Trời chiều xanh biếc, cảnh vui đâu.
Công danh trót lạc vào hư ảo,
Hồ hải rong chơi, bớt nỗi sầu.
Đi, lại tự mình nào sá quản,
Sóng xanh vạn khoảnh cánh chim âu.
Đào Thái Tôn dịch (theo Thơ văn Lý Trần)
19
Sau khi Chu Văn An đi rồi, không còn ai ngăn cản, Dụ Tông
càng mặc sức ăn chơi. Vào mùa đông năm 1363, Dụ Tông sai đào
hồ trong vườn ngự uyển. Trong hồ, xếp đá giả sơn và khai ngòi
bốn phía cho nước chảy thông nhau. Cạnh hồ là hoa viên trồng
các loại thông, tre và trăm thứ hoa thơm cỏ lạ.
20
Vua cũng sai người đi khắp nơi tìm các loại chim quý, thú lạ
về nuôi trong vườn. Cạnh hồ, Dụ Tông cho cất một tòa lầu rực
rỡ. Đấy là nơi nhà vua thường cùng đám cận thần dua nịnh của
mình đến vui chơi, bài bạc, chè chén và xem cung nữ múa hát.
21
Gần đấy, Dụ Tông lại sai đào một cái hồ khác nhỏ hơn. Dân
chúng Hải Đông phải vất vả chở nước từ biển vào đổ đầy hồ.
Trong khi đó, dân các vùng ven biển phải nhọc công tìm các loài
cá lạ, các loại sinh vật biển cùng cá sấu chở đến nuôi trong hồ
cho vua thưởng ngoạn.
22
Dụ Tông cũng thường ra khỏi kinh thành, nhưng không phải
để xem xét dân tình mà để đến nhà các quan lại thân cận bày các
cuộc vui. Một hôm nhà vua đi thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy
Trần Ngô Lang ở Mễ Sở (thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay) đến nửa
đêm. Lúc trở về Dụ Tông bị bọn cướp chặn lấy mất cả ấn và gươm
báu. Tin rằng đấy là điềm xấu báo trước mình sẽ không sống lâu,
vua càng lao mình vào các cuộc ăn chơi.
23
Năm 1369, Dụ Tông lâm bệnh nặng, vì không
có con nên lúc sắp mất, vua xuống chiếu truyền
ngôi cho Nhật Lễ. Nguyên trước đây có một
đào hát rất đẹp, vợ của một người làm trò tên
Dương Khương, thường đóng vai Vương mẫu
trong tuồng “Vương Mẫu hiến bàn đào”. Anh
cả của Dụ Tông là Cung túc Đại vương Trần
Dục say mê nhan sắc của nàng nên bắt Dương
Khương phải nhường vợ cho mình. Lúc đó nàng
đã có mang với Dương Khương, sau đó sinh ra
Nhật Lễ.
24
Triều đình và nhiều tôn thất nhà Trần không tán thành việc
truyền ngôi cho Nhật Lễ và muốn lập người anh của Dụ Tông là
Cung Định vương lên ngôi. Nhưng Hiến Từ Hoàng Thái hậu (vợ
của Thượng hoàng Minh Tông đã mất) bảo:
- Trần Dục là con đích trưởng, lại mất sớm, không được nối
ngôi vua. Nhật Lễ không phải là con của Dục đó sao?
Và bà cho người đi đón Nhật Lễ vào cung.
25
Lên ngôi vua rồi Nhật Lễ cũng chẳng màng gì đến việc nước,
suốt ngày chỉ cùng bọn cận thần dua nịnh vui chơi, tổ chức yến
tiệc, hát xướng. Các tôn thất nhà Trần và quan lại mong muốn có
được một vị minh quân đều thất vọng, nhất là Thái hậu Hiến Từ.
Bà hối tiếc vì đã có quyết định sai lầm giúp Nhật Lễ lên ngôi nên
thường than thở với những người trong cung. Nhật Lễ nghe được
căm giận lắm, sai người lén đánh thuốc độc giết Thái hậu.
26
Nhật Lễ còn định bỏ họ Trần lấy lại họ Dương, tức họ cha ruột
của mình. Để thực hiện dự tính đó, Nhật Lễ tìm cách diệt trừ tôn
thất họ Trần, nhất là những người có danh vọng hoặc đang nắm
chức vụ quan trọng trong triều. Trước tình hình đó, một số tôn thất
họ Trần hợp sức với nhau để tính kế giết Nhật Lễ nhưng không
thành. Mười tám người tham gia việc này đều bị giết hại.
27
Trần Phủ, con trai thứ ba của Trần Minh Tông, vốn là một người
nhu nhược. Tuy có con gái làm hoàng hậu của Nhật Lễ nhưng
thấy Nhật Lễ cho quân lùng bắt các tôn thất nhà Trần, Trần Phủ
sợ vạ lây đến mình nên thu xếp đồ đạc, cùng gia quyến định lánh
ra trấn Đà Giang để tìm chỗ ẩn thân.
28
Biết chuyện ấy, em gái Trần Phủ là công chúa Thiên Ninh cố
gắng thuyết phục anh:
- Thiên hạ là của tổ tông mình, sao lại vứt bỏ nước cho kẻ
khác? Anh phải đứng ra chiêu tập nghĩa sĩ diệt Nhật Lễ để lấy lại
ngôi báu. Em sẽ đem bọn gia nô làm nội ứng cho!
Nghe lời em gái, tháng 10 năm 1370, Trần Phủ cùng Trần
Kính, Trần Nguyên Đán khởi binh chống Nhật Lễ ở Thanh Hóa.
29
Bấy giờ Nhật Lễ rất tin dùng Trần Ngô Lang vốn là cận thần
của vua Dụ Tông ngày trước. Công chúa Thiên Ninh liền tìm
cách gặp Ngô Lang nhắc lại tình nghĩa khi xưa với Dụ Tông để
lôi kéo Ngô Lang theo phe Trần Phủ. Vì thế mỗi khi Nhật Lễ sai
quan quân đi đánh dẹp các tôn thất họ Trần, Ngô Lang đều bí mật
khuyên họ bỏ Nhật Lễ mà theo về với phe nổi dậy.
30
Một tháng sau, Trần Phủ được các tôn thất họ Trần tôn lên ngôi
vua (tức Trần Nghệ Tông) và kéo quân về kinh đô. Nhật Lễ nghe
theo lời khuyên của Trần Ngô Lang, bỏ hoàng bào ra tận bến Đông
Bộ Đầu để đón cha vợ nhưng bị Nghệ Tông sai quân bắt giam ở
phường Giang Khẩu (nay là khu vực phố Hàng Buồm, Hà Nội).
Biết Ngô Lang làm phản, Nhật Lễ lập mưu giết Ngô Lang nên
bị Nghệ Tông xử tội. Mẹ của Nhật Lễ tìm cách trốn sang Chiêm
Thành lánh nạn.
31
Dưới thời Dụ Tông, ở Trung Quốc nhà Nguyên đã suy yếu, vì
thế biên giới phía bắc của Đại Việt được yên ổn. Nhưng ở phía
nam, nội tình Chiêm Thành có nhiều thay đổi. Sau khi Chế Năng
bị Phạm Ngũ Lão đánh bại và chạy sang Java, Chế A Nan được
lập lên ngôi. Chế A Nan thương yêu người con rể tên Trà Hoa Bố
Để hơn con ruột là Chế Mỗ. Bố Để được giao chức vụ quan trọng
trong triều nên ngầm tạo vây cánh và tìm mọi cách làm giảm uy
tín của Chế Mỗ. Bởi vậy, năm 1342, khi Chế A Nan mất, Trà Hoa
Bố Để dễ dàng cướp lấy ngôi báu.
32
Chế Mỗ khởi binh chống lại Bố Để suốt
mười năm trời để giành lại ngôi vua nhưng
cuối cùng bị thất bại, phải chạy sang Đại
Việt cầu cứu. Vào năm 1353, Dụ Tông
sai quân sang đánh Trà Hoa Bố Để và đưa
Chế Mỗ về nước. Tuy nhiên quân Trần chỉ
mới tiến đến Cổ Lũy (thuộc Quảng Ngãi)
thì bị phục binh phải rút về.
33
Sau cuộc thất bại ấy của nhà Trần, Trà Hoa Bố Để thường cho
quân kéo sang quấy rối ở Hóa châu, vùng đất Chế Mân nhường
cho Đại Việt khi trước. Triều đình nhà Trần phải cử Trương Hán
Siêu vào tổ chức việc phòng thủ ở vùng biên cương.
34
Khoảng năm 1360, Chế Bồng Nga nối ngôi Trà Hoa Bố Để.
Năm sau Chế Bồng Nga cho quân vượt biển đánh vào tận vùng
Bố Trạch, nằm sâu trong lãnh thổ Đại Việt (thuộc Quảng Bình
ngày nay). Sau khi đốt phá, cướp lấy của cải, quân Chiêm lại theo
đường thủy rút về.
35
Trong những năm sau đó, Chế Bồng Nga nhiều lần cho quân
sang Đại Việt cướp phá vùng biên giới khiến nhà Trần chống đỡ
rất vất vả. Ngang ngược hơn, Chế Bồng Nga còn sai sứ sang triều
đình Thăng Long đòi lại đất Hóa châu mà năm xưa vua Chế Mân
đã dâng cho vua Trần Anh Tông làm sính lễ.
36
Trước tình hình đó, Trần Dụ Tông phải sai Trần Thế Hưng và
Đỗ Tử Bình chuẩn bị binh mã để tiến đánh Chiêm Thành. Mùa
đông năm Đinh Mùi (1367), Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình rầm
rộ xuất quân, nhưng quân Trần vừa đến Chiêm Động (tỉnh Quảng
Nam ngày nay) thì bị quân Chiêm Thành phục kích. Bị bất ngờ,
quân Trần không thể chống đỡ, Trần Thế Hưng bị bắt, Tử Bình
phải rút quân về.
37
Năm sau, vua Dụ Tông mất, nhà Trần phải lo đối phó với Nhật
Lễ. Đến năm 1371, nhân mẹ của Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành
thông báo tình hình nước Đại Việt và xui đem quân sang đánh,
Chế Bồng Nga lập tức cho thủy quân vượt biển tiến vào cửa Đại
An (Nam Định). Quân Trần không phòng bị nên tan rã nhanh
chóng. Thừa thắng, Chế Bồng Nga thúc quân tiến thẳng đến kinh
đô Thăng Long.
38
Lúc bấy giờ quân đội nhà Trần đã quá suy yếu không ngăn
chặn nổi quân Chiêm Thành. Vua quan nhà Trần vội vã chạy sang
Đông Ngàn (thuộc Bắc Ninh ngày nay) để lánh nạn. Chế Bồng
Nga cho quân tiến vào Thăng Long “dễ dàng như dạo chơi vậy”.
Quân Chiêm Thành đốt trụi các cung điện, cướp của cải, vàng
bạc, lụa là và bắt nhiều phụ nữ đem về nước.
39
Cung tuyên Đại vương Trần Kính, con thứ mười một của Trần
Minh Tông và là em của Nghệ Tông, tập họp quân lính kéo về
chiếm lại kinh đô. Sau khi trở về triều, Nghệ Tông phong cho
Trần Kính làm Hoàng Thái tử và sau đó nhường ngôi cho Trần
Kính để lên làm Thượng hoàng. Năm 1372, Trần Kính lên ngôi
tức vua Trần Duệ Tông.
40
Lên ngôi lúc đất nước đang khó
khăn, kinh thành vừa bị đốt phá, dân
tình khốn khổ, trộm cướp nổi lên
khắp nơi... lẽ ra Duệ Tông phải tập
trung vào việc xây dựng, củng cố đất
nước. Nhưng nhà vua chỉ chăm chăm
vào mỗi một việc là chuẩn bị lực
lượng để đánh Chiêm Thành. Vua
cho thu gom lúa gạo và chuyển 5
vạn thạch lương đến trữ ở Hóa châu
dù nhân dân đang bị nạn đói đe dọa.
41
Đồng thời Duệ Tông cho bắt thêm lính, tăng thuế để có kinh
phí đóng thêm nhiều chiến thuyền, bắt dân phải đi phu để sửa
sang các con đường dẫn về phương nam nhằm chuyển quân được
dễ dàng. Vì thế, dân tình đã khổ lại càng thêm khổ.
42
Trước tình hình đó, Ngự sử Trung tán Lê Tích dâng sớ can
ngăn: “Việc binh là hung khí, không nên tự mình dấy việc can
qua. Huống chi nay mới bình xong được loạn bên trong cũng như
chỗ lở chưa lành. Nhà vua không nên lấy tức giận của riêng mình
mà hưng binh, tướng võ không thể cầu công trạng mà đánh càn”.
Nhưng lời can gián đó chẳng được Duệ Tông để ý.
43
Vợ vua Duệ Tông là bà Từ phi Bích Châu
vốn được vua sủng ái vì rất giỏi ca hát, thơ
văn. Trước đây, thấy chính sự rối ren, bà đã
viết “Kê minh Thập sách” dâng lên cho chồng
10 kế sách để trị quốc, an dân nhưng không
được thực hiện. Nay bà lại đứng về phía các
vị đại thần, hết lòng khuyên nhà vua bãi binh
nhưng Duệ Tông vẫn không đổi ý. Ngự sử Đại
phu là Trương Đỗ cũng đã ba lần dâng sớ can
ngăn mà vua chẳng chịu nghe nên đành treo
ấn từ quan.
44
Lúc ấy Đỗ Tử Bình đang giữ chức trấn thủ Hóa
châu, vùng đất tiếp giáp với Chiêm Thành. Y là
kẻ tham lam, khi Chế Bồng Nga biết vua Trần
chuẩn bị động binh, vội sai sứ đem mười mâm
vàng sang dâng để tỏ ý quy phục, y lấy cả giấu làm
của riêng rồi tâu đối với Duệ Tông là vua Chiêm
Thành ngạo mạn, chẳng chịu nạp cống, cần phải
cất quân đi chinh phạt. Lời tâu đó hạp với ý định
của Duệ Tông càng làm nhà vua nhất quyết tiến
đánh Chiêm Thành.
45
46
Tháng chạp năm Bính Thìn (1376), Duệ Tông làm lễ xuất quân,
sau đó đích thân đem 12 vạn quân thủy bộ kéo về phương nam.
Nàng Bích Châu cũng xin đi theo để hầu hạ nhà vua. Lê Quý Ly,
là anh em họ ngoại của vua, được thăng chức Tham mưu Quân
sự và lo việc đốc thúc dân Nghệ An, Tân Bình, Thuận châu, Hóa
châu vận chuyển lương thực tiếp tế cho đoàn quân viễn chinh. Đỗ
Tử Bình được giao chỉ huy hậu quân để phối hợp cùng tiền quân
của nhà vua.
47
Tương truyền, quân của Duệ Tông vào đến huyện Kỳ Anh (Hà
Tĩnh) thì gặp mưa to gió lớn, thuyền không tài nào tiến lên được.
Nghe dân gian quanh vùng nói đó là do Hà Bá đòi cống một người
con gái, nàng Bích Châu tự nguyện hiến mình để sóng yên biển
lặng. Nhờ đó, nhà vua dẫn quân kéo vào đến cửa Nhật Lệ (Đồng
Hới, Quảng Bình) không gặp trở ngại gì. Vua cho dừng quân ở
đây hơn một tháng để hai cánh quân thủy bộ phối hợp với nhau
mà tập luyện.
48
 





